icon icon icon

Giờ làm việc: Từ 08h00 đến 20h00 (Cả thứ 7 và Chủ Nhật)

092.2526.888

Bối mẫu qua lâu tán – bài thuốc cổ phương cho chứng ho có đờm do "phế táo" mùa hanh khô

Đăng bởi Viện Y Dược cổ truyền Quân dân y Việt Nam vào lúc 31/10/2026

Cuối thu, thời tiết hanh khô dễ làm tổn thương phế, gây ho có đờm dính khó khạc, họng khô, miệng ráo. Y học cổ truyền gọi đây là chứng "phế táo có đàm", và một trong những bài thuốc cổ phương thường được nhắc tới là Bối mẫu qua lâu tán, xuất xứ từ sách "Y học tâm ngộ".

Theo y học cổ truyền, mùa thu ứng với tạng Phế và khí "táo" (khô). Khi thời tiết hanh khô kéo dài, táo tà dễ làm tổn thương phế âm, tân dịch bị hao, đờm trở nên đặc dính. Người bệnh thường ho, có đờm nhưng khạc không ra, họng khô, miệng ráo, có khi đau họng; nặng hơn có thể ho kèm thở nhanh, nông. Thể bệnh này phần nhiều gặp ở người vốn phế âm hư, lại cảm thêm phong nhiệt từ bên ngoài.

Thành phần (bài gia giảm, theo Lương y Phan Thị Thạnh – Báo Sức khỏe & Đời sống):

  • Bối mẫu 14g
  • Qua lâu 14g
  • Thiên hoa phấn 14g
  • Phục linh 14g
  • Trần bì 10g
  • Cát cánh 12g

Cách dùng: Sắc uống. Liều lượng và số thang do thầy thuốc quyết định sau khi khám.

Công dụng: Nhuận phế, hóa đàm. Chủ trị: phế táo có đàm, khạc đàm không lợi, họng khô, miệng ráo, đau họng.

Phân tích bài thuốc: Bài này được hình thành từ bài Nhị trần thang, bỏ bán hạ và cam thảo, thêm bối mẫu, qua lâu, thiên hoa phấn, cát cánh. Lý do là bán hạ có tính rất táo, dễ làm tổn thương tân dịch, không phù hợp với chứng táo đàm.

  • Bối mẫu, qua lâu: thanh nhiệt, hóa đàm, nhuận phế, chỉ khái – là chủ dược.
  • Thiên hoa phấn: sinh tân, nhuận táo.
  • Cát cánh: tuyên phế, lợi yết (làm thông họng).
  • Phục linh, trần bì: kiện tỳ, lý khí, giúp hóa đàm.

Gia giảm thường gặp trên lâm sàng (theo nguồn trên):

  • Ngứa họng gây ho: thêm tiền hồ, ngưu bàng tử để tuyên phế lợi yết.
  • Táo nhiệt nặng, họng khô, đau: thêm huyền sâm, sinh địa, mạch môn, lô căn để thanh nhiệt nhuận táo.
  • Phế nhiệt đàm thịnh (đờm vàng đặc dính, người nóng bứt rứt, lưỡi đỏ rêu vàng): bỏ thiên hoa phấn, phục linh, cát cánh; thêm hoàng cầm, hoàng liên, chi tử, đởm nam tinh, cam thảo.

Ai phù hợp: Người ho có đờm dính, khó khạc, họng khô, miệng khô trong mùa hanh khô, được thầy thuốc chẩn đoán đúng thể phế táo có đàm.

Lưu ý và chống chỉ định:

  • Bài thuốc có tính mát, thiên về thanh nhuận, nên không phù hợp với ho do phong hàn (đờm loãng trắng, sợ lạnh, rêu lưỡi trắng) hoặc người tỳ vị hư hàn hay đi ngoài phân lỏng – những trường hợp này cần thầy thuốc chọn bài khác.
  • Theo nguyên tắc "thập bát phản" của Đông dược, bối mẫu, qua lâu, thiên hoa phấn đều phản ô đầu (phụ tử), không dùng chung.
  • Phụ nữ có thai, cho con bú, trẻ nhỏ, người đang dùng thuốc điều trị bệnh mạn tính cần được thầy thuốc chỉ định riêng.
  • Ho kéo dài trên 3 tuần, ho ra máu, sốt cao, khó thở, sút cân… cần đi khám ngay tại cơ sở y tế để loại trừ các bệnh lý nguy hiểm.

Khuyến cáo: Bài viết chỉ mang tính tham khảo. Mỗi người có thể trạng và thể bệnh khác nhau, vì vậy cần được bác sĩ y học cổ truyền hoặc lương y thăm khám, bốc thuốc phù hợp trước khi sử dụng.

Nguồn tham khảo

Tags : Bài thuốc YHCT
VIẾT BÌNH LUẬN CỦA BẠN: